Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

By

Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Bài làm

Nguyễn Tuân được biết đến là một trong những cây bút chủ lực của nền văn chương Việt Nam hiện đại. Ông là người luôn hướng về những giá trị truyền thống tốt đẹp, luôn muốn gìn giữ những giá trị được coi là tinh hoa từ quá khứ. Hơn nữa, Nguyễn Tuân còn là một người rất thích chủ nghĩa xê dịch, ông thích đi nhiều nơi, tìm hiểu những miền đất lạ.

Đối với ông, ngay cả cảnh vật thiên nhiên cũng mang dáng dấp của một thực thể sống có cảm xúc. Người lái đò sông Đà là một trong những tác phẩm thể hiện rõ rệt nhất cảm hứng đó của ông. Câu chuyện miêu tả sông Đà như một thực thể sống có hồn cốt vừa dữ dằn mà cũng vừa thơ mộng. Trong tác phẩm cũng miêu tả thêm về con người Tây Bắc, ngợi ca họ vì tình thần vừa cần cù dũng cảm, vừa khéo léo tài hoa.

Nguyễn Tuân bắt mạch cảm xúc của mình từ một câu thơ trữ tình của Vla-đi-xláp Brô-ni-ép-xki nhà thơ cách mạng Ba Lan (1897 – 1962): “Đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông” và câu thơ chữ Hán của Nguyễn Quang Bích “Chúng thuỷ giai đông tẩu/Đà Giang độc bắc lưu” (Mọi dòng sông… hướng Bắc) để có cảm hứng kể và tả về dòng sông Đà. Về phương diện địa lý, sông Đà dài gần 900km, “lượn rồng rắn” qua vùng rừng núi bao la, có độ dốc lớn. Vì vậy, lưu tốc của sông Đà lớn hơn nhiều những dòng sông khác. Tuy nhiên Nguyễn Tuân chỉ cung cấp một phần tri thức ấy, chủ yếu Nguyễn Tuân viết về sông Đà với khía cạnh văn hoá thẩm mĩ, bày tỏ cảm xúc của mình. 

Sông Đà có trong mình nét hung bao và dữ dằn. Cảnh 2 bờ sông “Đá hai bên bờ sông dựng thẳng đứng như xây vách thành”. Cả ngày mặt sông không ánh nắng, “Ở đây người ta chỉ nhìn thấy mặt trời lúc đúng ngọ”. Cách miêu tả này tạo được ấn tượng khá đậm nét về vách đá dựng đứng với độ cao hun hút. Vách đá: “Có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”… Hút nước được so sánh như cái giếng bê tông. Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ tài hoa uyên bác, mang một “phép thuật” làm sống dậy sự dữ dằn, hung bạo của dòng sông Đà, đồng thời am hiểu kĩ thuật ở nhiều ngành khoa học, nghệ thuật khác.

Thác nước nghe như là oán trách, giọng gằn mà chế nhạo, như là van xin, khiêu khích…Nó rống lên như hàng ngàn con trâu mộng… Nghệ thuật so sánh liên tưởng độc đáo, sáng tạo với nước – lửa. Nguyễn Tuân cực tả được sự dữ dằn, dữ dội của con sông Đà. Nó như là tâm địa của kẻ thù số một, vừa như van xin, vừa như khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo…

Xem thêm:  Phân tích hình tượng Cây xà nu trong tác phẩm Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành

Thạch trận được chia 3 vòng, sông Đà hiện lên như 1 con thuỷ quái khổng lồ, mụ dì ghẻ độc ác, tên chúa đất tàn bạo. Sông Đà hiện lên như 1 biểu tượng về vẻ đẹp dữ dội và hung vĩ của thiên nhiên, đất nước.

Nguyễn Tuân sử dụng kết hợp từ ngữ cổ điển và hiện đại chính xác làm cho con sông Đà sống dậy một cách dữ dội với nhiều ghềnh thác hiểm trở gùn ghè. Qua đó ta thấy Nguyễn Tuân  nhìn Sông Đà như một thực thể, phát  hiện tài nguyên quý giá. Nguyễn Tuân như là một thầy phù thủy của ngôn từ, ngòi bút của ông như đang tung hoành trên từng trang kí. Đó là những trang tuyệt bút, xuất thần của 1 đời lao động nghệ thuật “ khổ hạnh” của người nghệ sĩ chân chính.

phan tich tac pham nguoi lai do song da cua nguyen tuan - Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân

Phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà

Bên cạnh đó sông Đà cũng mang trong mình nét thơ mộng, trữ tình. Từ thác bờ về xuôi sông Đà hiền hoà, nước chảy êm đềm, nó dịu dàng như biết bao dòng sông khác. Đây là cái nhìn không chỉ quan sát bình thường mà đầy khám phá, sáng tạo nghệ thuật: “Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đổt hương xuân”. Nhìn từ trên cao “sông Đà như cái dây thừng ngoằn ngèo”.

Nguyễn Tuân miêu tả màu sắc của sông Đà biến đổi theo từng mùa: “Mùa xuân nước sông Đà màu ngọc bích”, tác giả nhấn mạnh: “chứ không xanh như màu cánh hến” tức là màu xanh đục của sông Gâm, sông Lô. Sự so sánh về màu sắc làm cho dòng sông có vẻ đẹp riêng (Ngọc bích: vừa trong lại vừa có sự phản chiếu óng ánh). “Mùa thu nước sông Đà lừ đừ chín đỏ”, tác giả lại so sánh: “Lừ lừ chín đỏ như da người bần đi vì say rượu bữa”. Dòng sông có vẻ đẹp riêng của mỗi mùa.

Cảnh hai bên bờ sông Đà với: “Bờ sông Đà, bãi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà”. “Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như ở đời Lí,… cổ tích tuổi xưa”. Ta tưởng như được chứng kiến cảnh yên tĩnh của sông Đà. Cách so sánh của Nguyễn Tuân “một bờ tiểu sử”, “một nỗi niềm cổ tích” có sức khêu gợi sâu xa, khắc hoạ vẻ đẹp hoang sơ, con sông chảy qua tháng năm lịch sử mang dấu ấn văn hoá, ngàn xưa của cha ông. Văn Nguyễn Tuân cổ kính, đĩnh đạc, trong nghiêm mà hiện đại là thế. “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến”.

Nguyễn Tuân đưa người đọc về với những huyền thoại qua câu ca dao. Cũng không ai nghĩ rằng đó là con sông của câu đồng dao Sơn Tinh, Thuỷ Tinh: “Núi cao sông hãy còn dài/ Năm năm báo oán đời đời đánh ghen” và câu thơ của Lí Bạch: “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Nhìn ngắm sông Đà, suy nghĩ về sông Đà bằng nhiều thời gian và không gian khác nhau. Thiên nhiên sông Đà đã ùa vào lòng nhà văn để tâm hồn cẩt cánh thành lời rất đỗi trữ tình.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng xà nu

Cái dữ dội và vẻ trữ tình của Sông Đà không chỉ là thử thách mà còn là chất vàng 10 của thiên nhiên Tây Bắc đang chờ đợi sự cải tạo, thu phục của con người Tây Bắc để dòng sông ấy phục vụ cho cuộc sống của con người nơi đây. Qua đó NT thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.

Hình tượng ông lái đò hiện lên trên những trang văn đầy chất thơ. Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, lúc đầu còn đi thuyền người khác, sau ông đi thuyền của mình gồm 6 bơi chèo. Giờ đây tuổi cao, ông đã thôi chở đò nhưng vẫn còn muốn thi với các nhà đò khác.

Qua quãng mặt ghềnh sông: Dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió….Ông tỏ ra rất thận trọng không hề khinh xuất tay lái. Quãng có nhiều hút nước: ông lái đò đường thủy mà như đang lái xe đường bộ: “Thạch trận bày song con thuyền lao tới”. Sau hàng chục năm xuôi ngược trên sông Đà, ông đò vẫn nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả những luồng nước, của tất cả con thác hiểm trở”, “ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần nông thần đá”, “thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở” nên ông lái rất tự tin. Ông đò còn là người có tài nghệ leo ngềnh, vượt thác. Ông đò còn là người có ngoại hình của con người gắn bó với nghiệp “cánh tay dài lêu nghêu như cái sào”, “chân khuỳnh khuỳnh”, giọng nói ào ào như thác nước…

Nguyễn Tuân miêu tả cuộc vượt thác của ông lái đò: “Ông lái đò như một viên tướng tả xung, hữu đột qua nhiều cửa, nhiều vòng mà ở cửa nào cũng có những tên đá tướng hung tợn chắn giữ”. Ông đò chỉ sơ suất nhỏ cũng có thể bị trả giá bằng án mạng.

Mặt trước hò la xông tới định bẻ gẫy cán chèo “thác nước thúc mạnh vào hông thuyền”, “như đô vật tóm lấy thắt lưng ông đò”, “nhưng trên cái thuyền sáu tay chèo vẫn nghe tiếng chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo của ông lái”. Ông bình tỉnh và tự tin biết chừng nào. Ông nén cái đau về thể xác (thác nước đã đánh trúng đòn vào chỗ hiểm), điều khiển con thuyền vượt qua “trùng vi thạch trận”. Ông lái đò có những động tác nhanh, mạnh, táo bạo nhưng chuẩn xác: “bám chắc lấy luồng nước… mở đường tiến”. Trí tưởng tượng và vốn từ phong phú, Nguyễn Tuân tạo được đoạn văn mang đầy không khí trận mạc, sinh động cuộc chiến đấu của người lái đò với thác nước, với tầng lớp mai phục mà ông lái đò ngày nào cũng phải đối mặt với Đà giang. Ông lái đò rất thuần phục, giỏi giang trong nghề leo ghềnh, vượt thác “còn một trùng vây thứ ba nữa… sóng xèo xèo tan trong trí nhớ”. Cách sử dụng từ ngữ vừa là tượng hình, vừa tượng thanh. Cách so sánh, câu văn ngắt ra nhiều để diễn tả động tác trong cùng một khoảng thời gian của người lái đò. Đó là tài hoa của người nghệ sĩ. Dù bất cứ nghề nào, con người bộc lộ tài khéo, điêu luyện, con người đó là nghệ sĩ. Nguyễn Tuân quan niệm như vậy.

Xem thêm:  Phân tích hình tượng nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao

Ông lái đò là một nghệ sĩ tài hoa và ông còn có tâm hồn phong phú, giản dị mà thanh cao. Nhà đò nghỉ lại trong hang đó, “đốt lửa trong hang, nướng ống cơm lam, và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá, hang cá mùa khô…cũng chẳng thấy ai bàn một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua… cuộc sống của họ ngày nào cũng phải chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy  cái sồng từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì hồi hộp đáng nhớ. Họ nghĩ thế lúc ngừng chèo, phải chăng ông lái đò cùng đồng nghiệp của mình thiết tha gắn bó với nghề nghiệp. Tài hoa nghệ sĩ còn ở chỗ đó.

Anh hùng không chỉ xuất hiện đối mặt với kẻ thù trong tiếng bom gầm, đạn réo mà ngay trong cuộc sống lao động hằng ngày của những con người giản dị, không mang một cái tên chỉ là ông lái đò, ông đò, nhà đò, người lái đò đang có mặt nơi ghềnh thác đèo heo hút gió, xa xôi của Tổ quốc. Họ đã làm nên thiên anh hùng ca lao động. Họ đáng trân trọng biết bao.  

Bài kí Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp của tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước say đắm. Ca ngợi vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa trữ tình của thiên nhiên và nhất là của con người lao động.

Minh Anh

You may also like

DMCA.com Protection Status